Ta Đem Chuông Đồng Tâm Đi Chôn6
Thẩm Ký Bạch nhắm mắt lại, giọng như bị giấy nhám mài qua: “Ta đã che chở nhầm người.”
Lương Ánh Tuyết cuối cùng cũng hoảng loạn.
Nàng khóc, nàng gào, nàng nói mình bệnh yếu, nói mình cô khổ, nói Thẩm Ký Bạch từng hứa sẽ che chở nàng cả đời.
Nhưng trong miếu Hà Thần, không còn ai đưa cho nàng một chén t.h.u.ố.c nữa.
Cuối cùng Lương Ánh Tuyết bị áp giải vào huyện lao.
Mua chuộc người lấy mạng chính thê, quấy rối lễ tế sông, chứng từ lời khai trước sau đều đủ, không ai cứu nổi nàng ta.
Trở lại Thẩm phủ, ta bắt đầu kiểm kê của hồi môn.
Tiểu Mãn cầm danh sách của hồi môn, đọc từng món một.
Vàng bạc trang sức, khế ruộng khế tiệm, lụa là rương hòm đều chỉ là thứ yếu.
Quan trọng nhất là khế thư của phường chuông Tống gia.
Sau nhà cũ Tống gia còn có một gian xưởng đúc chuông.
Một kho hàng.
Nửa phần cửa tiệm bán đồng liệu.
Một chiếc thuyền chở hàng đã nhiều năm không tu sửa.
Cùng bản vẽ chuông An Lan do mẫu thân ta để lại.
Năm xưa ta gả vào Thẩm gia, Thẩm phủ dựa vào danh tiếng phường chuông Tống gia mới có được thể diện làm nhà chủ trì lễ tế sông.
Sau này Tống gia suy vi, Thẩm gia liền xem phường chuông như của hồi môn của ta, đương nhiên nắm c.h.ặ.t trong tay.
Nay ta đã đoạn duyên, đồ của Tống gia cũng nên trở về Tống gia.
Ban đầu Thẩm lão phu nhân không chịu.
Ta chỉ bảo Tiểu Mãn đặt đoạn duyên thư cùng lời khai trong vụ tế sông trước mặt bà.
Sắc mặt bà xanh mét, cuối cùng vẫn giao chìa khóa ra.
Chạng vạng, Thẩm Ký Bạch đích thân tới.
Hắn gầy đi cả vòng, quầng mắt xanh đen, trông như đã mấy đêm không ngủ.
Trong tay hắn ôm một chiếc hộp gỗ, tay kia nắm chìa khóa cùng khế thư của phường chuông Tống gia.
Hắn đặt khế thư lên bàn, giọng khàn thấp: “Lương Ánh Tuyết đã bị giải lên quan.”
“Đồ của Tống gia, ta cũng đã dọn ra hết.”
“A Ninh, ta biết những thứ này không thể bù đắp cho nàng, nhưng ta…”
Ta ngắt lời: “Thẩm Ký Bạch, đây không phải chàng đang bù đắp cho ta.”
Hắn sững ra.
Ta cầm khế thư lên, khẽ phủi lớp bụi trên mặt giấy: “Đây là đồ của Tống gia, vốn dĩ nên trả về Tống gia.”
Ngón tay hắn từng chút siết c.h.ặ.t.
Rất lâu sau, hắn mới mở chiếc hộp gỗ.
Bên trong đặt một đôi chuông đồng tâm mới đúc.
Màu đồng rất sáng, dây đỏ cũng mới.
Chỉ là thân chuông quá mới, mới đến mức không còn chút hơi thở nào của ngày cũ.
Thẩm Ký Bạch hạ giọng: “Ta biết đôi chuông kia đã bị chôn.”
“Nhưng ta đã đúc lại một đôi mới.”
Ta không nhận.
“Thẩm Ký Bạch, đôi chuông ban đầu là do phụ thân ta định âm trước lúc lâm chung, mẫu thân ta tự tay quấn dây.”
“Thứ nó chôn xuống là năm năm ta trao nhầm chân tình.”
“Không phải chàng tùy tiện đúc một đôi mới là có thể thay thế.”
Đầu ngón tay hắn run lên: “Ta có thể tìm thợ sửa lại, sửa đến khi giống hệt trước kia.”
Ta nhìn hắn, bỗng cảm thấy mệt mỏi.
“Chàng không hiểu.”
“Chuông cưới Tống gia định là âm của hai người đồng tâm, lòng đã không còn ở cùng một chỗ thì tiếng chuông dù giống đến đâu cũng chỉ là cái vỏ rỗng.”
Sắc mặt Thẩm Ký Bạch trắng bệch.
Ta lại nói: “Hôm nay, từng chuyện chàng làm đều rất đúng.”
Trong mắt hắn thoáng sáng lên một tia.
Ta bình tĩnh nói nốt nửa câu sau: “Đáng tiếc, chuyện nào cũng quá muộn.”
Tiểu Mãn ở ngoài thúc giục: “Cô nương, xe đã chuẩn bị xong rồi.”
Từ phu nhân trở lại thành cô nương.
Tiểu Mãn gọi xong, chính nàng cũng ngẩn ra.
Ta cũng khựng lại một thoáng, rồi bật cười: “Đi thôi.”
Thẩm Ký Bạch theo bản năng bước lên: “A Ninh.”
Ta dừng chân.
Hắn nói: “Ta sẽ tới dốc Đoạn Hồn, đào đôi chuông về.”
Ta quay đầu nhìn hắn: “Ta đã nói rồi, chuông chôn xuống thì đừng đào lên nữa.”
Trong mắt hắn hiện lên vẻ cố chấp: “Ta không tin số mệnh.”
Ta khẽ nói: “Chàng chỉ không tin ta thật sự sẽ rời đi.”
Các khớp ngón tay hắn đột ngột siết lại, cạnh hộp gỗ cấn đến tay hắn trắng bệch.
Ta không dừng lại nữa.
Khi xe ngựa rời khỏi Thẩm phủ, trời vừa sẩm tối.
Thẩm Ký Bạch đứng trước cổng, trong tay vẫn ôm chiếc chuông mới ấy.
Gió thổi qua, trong hộp gỗ vang lên một tiếng ngân cực khẽ.
Hắn lập tức ấn tay lên n.g.ự.c.
Ta không quay đầu.
Phường chuông Tống gia đã hoang phế quá lâu.
Rêu xanh bò kín tường viện, trong lò chất đầy tro lạnh, trên giá gỗ treo mấy chiếc chuông hỏng.
Tiểu Mãn nhìn đến đỏ mắt: “Cô nương, nơi này còn mở lại được sao?”
Ta xắn tay áo, đẩy cửa sổ phòng đúc ra.
Bụi tung lên trong nắng, phủ đầy tay áo ta.
“Được.”
Ngày đầu tiên, chúng ta dọn lò.
Thím Đỗ dẫn hai thuyền nương, vác chổi cùng thùng gỗ bước vào, giọng lớn đến nửa con phố đều nghe thấy: “Tống cô nương, việc trên sông ta quen, giao hàng tìm người đều tính cho ta một phần.”
Ngày thứ hai, những lão thợ từng làm cho Tống gia cũng tới.
Một người tóc đã bạc quá nửa, đứng trước lò sờ khuôn đồng, ngón tay dừng trên vết cũ ở miệng khuôn rồi thở dài: “Cách định âm của lão chủ nhân không thể đứt trong tay chúng ta.”
Ngày thứ ba, hai cô gái mồ côi từng được ta giúp đỡ cũng tới.
Một người biết ghi sổ, một người khéo tay, có thể quấn dây chuông.
Tiểu Mãn lén nói với ta: “Cô nương, trước kia nô tỳ chỉ biết người từng làm rất nhiều việc tốt, không ngờ mọi người đều nhớ.”
Ta không nói gì, chỉ rót mẻ đồng nóng đầu tiên vào khuôn.
Ánh lửa hắt đến cay mắt.
Chiếc chuông đầu tiên ra lò, tiếng còn đục.