Liễu Trần Duyên4
Nhưng sau khi công thành danh toại, chỉ dựa vào lời một phía của Từ Sở Âm, hắn đã định tội cho ta.
Loại đàn ông như thế, đời này ai thích thì cứ lấy.
Còn thiếu tướng quân…
Ta rũ mi.
Kiếp trước khi nghe tin hắn t.ử trận sa trường, ta đang mang thai, khi ấy trong lòng còn dâng chút chua xót, nghĩ rằng tuy hắn không phải phu quân của ta, nhưng cũng là một hảo hán, vì nước hi sinh, đáng được kính trọng.
Nhưng điều ấy không có nghĩa đời này ta nhất định phải gả cho hắn.
Huống hồ, ai dám chắc sau khi Từ Sở Âm gả vào phủ Trần Quốc Công mà sống không tốt, nàng ta sẽ không quay đầu tới trước thiếu tướng quân giở lại trò cũ, nói ta đã cướp hôn ước của nàng?
Ăn một lần thiệt thì phải khôn thêm một lần, ta không thể ngã hai lần trong cùng một cái hố.
“Muội muội…”
Từ Sở Âm lại lên tiếng, trên mặt mang vẻ lo lắng vừa đủ: “Muội đã quyết ý, tỷ cũng không tiện khuyên thêm.”
“Chỉ là một mình muội tới am đường, bên cạnh dù sao cũng phải mang theo một nha hoàn hầu hạ chứ?”
“Không cần.”
Ta lắc đầu: “Am đường thanh tịnh, mang nhiều người theo trái lại quấy rầy các sư thái thanh tu.”
Mẫu thân hừ một tiếng ở bên cạnh, có lẽ cảm thấy ta ngoan cố không đổi, chẳng muốn phí lời thêm, chỉ nói nếu đã thật lòng thủ hiếu cho dưỡng mẫu thì không được mang theo bất cứ thứ gì.
Lông mi Từ Sở Âm khẽ run, rồi cũng im miệng, không nói thêm nữa.
Ta không nhìn sắc mặt mẫu thân nữa, thẳng bước trở về sương phòng của mình.
Cây hải đường trong sân đang nở vừa độ, cánh hoa phấn trắng rơi đầy mặt đất.
Đó là cây ta tự tay trồng sau khi vào hầu phủ, chuyển từ sườn núi ngoài thành về, vốn nghĩ đợi đến khi hoa nở, có lẽ mẫu thân sẽ vui.
Bà từng nói, khi chưa xuất giá, trong sân của bà cũng có một cây hải đường.
Nhưng lúc ta chuyển cây về, Từ Sở Âm đã sai người trồng mười tám cây Tây Phủ hải đường danh quý trong chính viện, từng cụm từng chùm rực rỡ như mây gấm.
Cây hải đường dại cô độc của ta từ đó chẳng còn ai nhìn thấy nữa.
Ta đẩy cửa vào phòng, đi thẳng tới chiếc hòm gỗ cũ bên đầu giường.
Chiếc hòm ấy mang từ nhà dưỡng mẫu tới, bên trong là mấy bộ quần áo cũ ít ỏi của ta, vải thô chỉ gai, chắp vá khắp nơi, hoàn toàn lạc lõng giữa hầu phủ này.
Ta mở nắp hòm, dưới đáy đè một chiếc khăn tay đã giặt đến bạc màu, góc khăn thêu một đóa sen xiêu xiêu vẹo vẹo.
Đó là do dưỡng mẫu thêu.
Tay bà vụng, đường kim thô, hiếm khi thêu thứ gì cho ta.
Nhưng trước lúc c.h.ế.t, bà lại nắm c.h.ặ.t chiếc khăn này, những ngón tay khô gầy vuốt đi vuốt lại, miệng lẩm bẩm không rõ: “Nha đầu à… nha đầu…”
“Nương có lỗi với con…”
Đến lúc sắp c.h.ế.t bà mới biết hối hận.
Ta đương nhiên hận bà, hận bà c.h.ế.t quá nhanh, ta còn chưa kịp làm gì thì bà đã tắt thở.
Nói gì mà thủ hiếu cho bà, chẳng qua cũng chỉ là cái cớ che mắt người khác.
Bởi người ta càng hận hơn là những kẻ rõ ràng biết hết mọi chuyện nhưng vẫn giả câm giả điếc.
Ví như sinh mẫu của ta, bà đã biết dưỡng mẫu đối xử với ta không tốt, vậy tại sao hơn nửa năm qua chưa từng hỏi ta một câu rằng những ngày tháng ấy ta đã sống thế nào?
Bà chỉ bận bù đắp cho Từ Sở Âm, bận tìm cho Từ Sở Âm một mối hôn sự tốt, bận xoa dịu nỗi bất an vì sợ bị thay thế của nàng ta.
Còn ta thì sao?
Ta giống như một món đồ thất lạc rồi tìm lại được, đặt vào góc là coi như đã làm tròn bổn phận.
Kiếp trước ta ngây thơ, cứ nghĩ chỉ cần mình đủ hiểu chuyện, đủ ngoan ngoãn, rồi mẫu thân sẽ nhìn thấy cái tốt của ta.
Thế là ta thuận ý bà gả cho Trần Tuấn, thuận ý bà không tranh giành với Từ Sở Âm, cuối cùng cũng như ý bà, c.h.ế.t trên giường sinh.
Sống lại một đời, ta sẽ không chiều theo ý bất cứ ai nữa.
Ngoài cửa sổ vọng vào tiếng nha hoàn cười nói, loáng thoáng xen mấy chữ “thiếu tướng quân”, “Trần thế t.ử”.
Ta cười một tiếng, đem cả hòm lẫn chiếc khăn tay đốt sạch trong một mồi lửa.
Tượng Quan Âm trong am Tĩnh Từ cũng nên được thay một nén hương tốt rồi.
Sáng sớm hôm sau, ta một mình bước ra khỏi cổng phủ Vũ An Hầu.
Xe ngựa lộc cộc xuyên qua cổng thành, rời khỏi kinh thành, đi thẳng về phía tây.
Am Tĩnh Từ dựng lưng chừng núi, am không lớn, sân viện cũng u tĩnh, vừa đúng ý ta.
Mỗi ngày sáng dậy quét dọn, tụng kinh, chép Vãng Sinh Chú cho dưỡng mẫu, đến đêm lại ngồi trước ngọn đèn xanh vá áo.
Am chủ pháp hiệu Tĩnh Trần, thấy ta chuyên cần, thương ta cô độc thanh khổ, thỉnh thoảng sẽ cho thêm nửa bát cháo chay.
Ngày tháng trôi qua bình đạm, nhưng trong lòng ta hiểu rõ, đời này đã hoàn toàn khác đời trước.
Từ Sở Âm chọn vị thế t.ử bệnh tật kia, ta không cần ngày ngày sắc t.h.u.ố.c, sưởi tay sưởi chân điều dưỡng cho hắn nữa.
Cũng không cần những đêm tuyết đứng dưới hành lang chờ hắn hạ triều, tay chân đông đến sinh ghẻ mà vẫn phải cười nói mình không lạnh.
Càng không cần nằm trên giường sinh nghe hắn nói câu “năm xưa ngươi cướp hôn ước của nàng, có kết cục này cũng đáng”, rồi uất nghẹn, khó sinh mà c.h.ế.t.
Giờ đây những khổ sở ấy đều thuộc về nàng ta.
Mong rằng nàng ta và Trần Tuấn đều được như nguyện.
Am Tĩnh Từ tuy ở nơi hẻo lánh, nhưng nữ khách tới xin quẻ, dâng hương, cầu Quan Âm nương nương ban con cái, ban nhân duyên lại không ít.
Mỗi khi ta chép kinh ở hậu sương, thường nghe những nha hoàn ma ma theo các phu nhân nhà giàu tới cầu phúc tụ lại chuyện trò.
Họ kể chuyện kín trong nội trạch, chuyện lạ bên ngoài, kể nhà nào có cô nương gả được người tốt, nhà nào có công t.ử ăn chơi lại đùa bỡn mấy nữ t.ử.